| TOÁN HỌC VIỆT NAM: ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ |
|
|
| Written by Administrator | |
| Tuesday, 25 December 2007 | |
|
TOÁN HỌC VIỆT NAM: ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ GS. TSKH Hà Huy Khoái
Toán học có cần cho xã hội không? Không phải lúc nào cũng nhận được câu trả lời: "Có", ngay cả khi hỏi những người có trách nhiệm hoạch định chính sách! Có một ông bộ trưởng giáo dục của một nước có nền toán học vào loại mạnh nhất thế giới, nước Pháp, đã cho rằng, không cần dạy môn toán ở trường phổ thông. Theo lý luận của ông ta, ngày nay với sự phát triển của tin học, chỉ cần dạy cho học sinh biết sử dụng bàn phím. Rất may là ông bộ trưởng này đã bị mất chức chính vì quan điểm cực đoan đó. Nói như ông ta, có lẽ chỉ cần dạy học sinh bấm công tắc điện, mà khỏi mất công dạy chúng các định luật về điện. Cũng rất gần đây, những nhà cải cách giáo dục ở Nga đã định loại môn hình học ra khỏi chương trình toán phổ thông, vì thấy chúng chỉ là trò chơi trí tuệ vô bổ. Việc đó chỉ bị đình lại sau khi nhiều nhà khoa học nổi tiếng phản đối, họ nêu khẩu hiệu "Không có hình học thì không có bom, không có tàu vũ trụ". Xem ra, vấn đề "Toán học có cần thiết hay không" vẫn là vấn đề phải bàn cãi! Dĩ nhiên, những người có quan điểm cực đoan không nhiều, nhưng không phải nhiều người đánh giá đúng vai trò của toán học trong đời sống xã hội. Trước tiên, vì vai trò đó rất khó nhận thấy. Các khoa học, kể cả khoa học xã hội đều cần đến toán học. Tuy nhiên, sự "cần thiết" đó nhiều khi vô hình, trong suốt, đến nỗi người ta không nhận thấy (xin nhắc lại rằng, loài người "tìm ra" không khí khá muộn!). Tôi nghĩ rằng, vai trò quan trọng nhất của toán học chính là ở chỗ, nó là một phần không thể thiếu trong mỗi con người "hiện đại": nó giúp người ta tư duy lôgic, rành mạch, giúp người ta biết cảm nhận chính xác các quan hệ về số lượng, vị trí. Nhưng nếu lợi ích của toán học luôn luôn "trong suốt" với người sử dụng như thế thì liệu xã hội có chịu đầu tư cho toán học hay không? Loài người đã có quá nhiều kinh nghiệm về việc ít ai chịu bỏ tiền làm sạch một thứ không nhìn thấy như là không khí! Đầu tư cho toán học: bài toán khó giải Như vậy, nói cho cùng, các nhà toán học nếu muốn nhận được khoản tiền nào đó của nhà nước thì phải chỉ ra cho các ông bộ trưởng một vài lợi ích nhìn thấy được của toán học. Điều này thật không dễ. Có một sự kiện có thể chứng minh vai trò đặc biệt quan trọng của toán học, đó là việc tìm ra các định luật chuyển động của các hành tinh. Định luật này do Kepler phát biểu lần đầu tiên vào thế kỷ 17, sau đó được Newton chứng minh. Nhưng cần phải quay về nguồn gốc của nó, trước thời điểm đó 2.000 năm, khi ông già Apolonius ngồi cắt mặt nón để ra được các đường cônic. Ông ta nghiên cứu chúng chỉ vì thấy chúng đẹp, chứ không phải vì nghĩ rằng nó sẽ có ích. Vốn ham mê các đường cônic từ nhỏ, Kepler, khi tiếp thu đài thiên văn Uraniborg từ thầy giáo của mình, đã lập tức nghi ngờ kết luận của thầy: Sao Hoả chuyển động theo quỹ đạo tròn. Ông ta không chịu chấp nhận sai số 0,5% chỉ là do đo đạc, mà nghĩ rằng, rất có thể đó là đường ellip, nhưng hai tiêu cự khá gần nhau. Từ sự hiểu biết các đường cônic, Kepler tìm ra định luật vào loại vĩ đại nhất trong lịch sử khoa học. Xem ra, cái đẹp sớm muộn sẽ có ích, dù đó chỉ là cái đẹp trong toán học! Thế nhưng, nếu phát minh nào trong toán học cũng phải chờ 2.000 năm mới có ứng dụng thì chắc các nhà toán học đều chết đói, vì nhà lãnh đạo "nhìn xa trông rộng" nhất cũng khó có cái nhìn xuyên suốt 2.000 năm sau! May thay, toán học ngày nay có những ứng dụng khá bất ngờ, dường như đi ngay vào cuộc sống, không phải chờ đến 200 ngày, chứ đừng nói đến 2.000 năm! Ví dụ điển hình là việc áp dụng số học và hình học đại số, những lĩnh vực trừu tượng nhất của toán học, trong việc xây dựng những hệ mật mã khoá công khai. Các hệ mã đó ngày nay không thể thiếu trong an toàn thông tin, thương mại điện tử, chính phủ điện tử,…Vì thế, không một quốc gia nào ngày nay có thể xem thường việc phát triển các ngành toán học trừu tượng. Như vậy, các nhà hoạch định chính sách đứng trước bài toán nan giải: đầu tư thế nào, để vừa nhằm những mục đích trước mắt, vừa "đón đầu tương lai"? Khi đói, ta chỉ mong có cái gì đủ no bụng, nên thường đòi các nghiên cứu khoa học phải "ra ngô, ra khoai" ngay. Nhưng chẳng lẽ cứ đòi hỏi như vậy mãi, để suốt đời cứ ăn ngô, ăn khoai? Việt Nam bây giờ đã qua cái thời ăn ngô, ăn khoai (thậm chí còn đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo!), nên có lẽ đã đến lúc, ngoài những nghiên cứu vì mục đích trước mắt, cần mạnh dạn đầu tư cho những nghiên cứu hướng nhiều hơn đến tương lai. Riêng với toán học, nên đầu tư thế nào? Đó vẫn là câu hỏi khó. Toán học Việt Nam đang ở vị trí nào? Khoảng 15 năm trước đây, nhiều người quá "lạc quan" đã nghĩ Việt Nam là một trong những nước có nền toán học phát triển mạnh của thế giới! Đánh giá như trên không chính xác, nhưng cũng không phải là không có căn cứ, vì trong những nước đang phát triển, Việt Nam có nền toán học vào loại mạnh nhất (có thể chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin). Nếu nhìn trong khu vực Đông Nam á thì thứ bậc của toán học Việt Nam chắc là cao hơn thứ bậc của sự phát triển kinh tế! Thành tựu của nền toán học Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Chẳng hạn, Viện Toán học (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) được Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ 3 công nhận là một trong khoảng hơn 10 Trung tâm xuất sắc của các nước thế giới thứ ba, và trong tổng số 8 người Việt Nam là Viện sĩ của Viện Hàn lâm khoa học thế giới thứ ba thì có đến 4 nhà toán học. Có được những thành tựu như vậy là nhờ trong nhiều năm, Nhà nước đã có đầu tư đáng kể để phát triển toán học. Đặc biệt, trong những năm trước đây, chúng ta luôn cử những học sinh giỏi nhất theo học ngành toán tại các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu. Những nhà toán học được đào tạo vào thời kỳ đó vẫn đang là những trụ cột của nền toán học Việt Nam hiện nay. Từ khi đất nước bước sang thời kỳ đổi mới, và với sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa, những người lạc quan nhất lại trở thành những người bi quan nhất, vì họ cho rằng những nhân tố thuận lợi cho sự phát triển toán học đã mất đi. Và quả thật, toán học Việt Nam đứng trước nguy cơ hụt hẫng thế hệ kế tục: có năm chỉ có 4 sinh viên đăng ký theo học ngành toán tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Nhiều nhà toán học được đào tạo nghiêm chỉnh chuyển sang nghề khác vì sự mưu sinh. Không có sự bổ sung của thế hệ trẻ, lại mất đi một phần lực lượng vốn có, vào năm 1995, toán học Việt Nam được nhiều người tiên đoán là sẽ "biến mất" sau khoảng 15 năm (xem bài trên tờ Gazete của Hội Toán học Pháp, 1995). Thế nhưng, ở thời điểm này, tôi nghĩ rằng, nguy cơ suy thoái của nền toán học Việt Nam đã bị đẩy lùi. Nói như vậy không phải vì quá lạc quan, mà có thể nhìn vào vài con số sau đây: hàng năm, có khoảng 60-80 công trình của các nhà toán học Việt Nam được đăng trên các tạp chí quốc tế (con số tương đối cao so với toán học khu vực và so với các ngành khoa học cơ bản khác của Việt Nam), trong số đó có nhiều công trình của các nhà toán học trẻ (tuổi dưới 35); mỗi năm có từ 4-8 hội nghị quốc tế về các chuyên ngành của toán học được tổ chức ở Việt Nam, với sự tham gia của nhiều nhà toán học nổi tiếng trên thế giới; hàng chục nhà toán học Việt Nam được mời làm giáo sư thỉnh giảng của nhiều trường đại học của các nước phát triển; hai tờ báo chính của toán học Việt Nam là Vietnam Journal of Mathematics và Acta Mathematica Vietnamica có mặt ở hầu hết các thư viện của các đại học lớn trên thế giới,… Như vậy, có thể nói, toán học Việt Nam, cũng giống như kinh tế Việt Nam, đã thoát ra khỏi khủng hoảng. Nhưng, sẽ đi về đâu? Toán học Việt Nam cần gi? Dĩ nhiên, cần người biết làm toán. Toán học Việt Nam thoát qua cơn nguy hiểm nhờ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, nhiều người làm toán đã "sống chết với nghề" ngay cả trong những lúc khó khăn. Thứ hai, đất nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, chuyện mưu sinh không phải là quá bức bách nữa, nên nhiều bạn trẻ yêu thích toán học đã dám chọn toán học làm nghề nghiệp của mình. Thế nhưng, để đưa nền toán học Việt Nam tiến lên thì thế vẫn chưa đủ. Một quan niệm khá phổ biến: làm toán chỉ cần tờ giấy và cây bút! Bây giờ ít ai viết, mà hay dùng máy tính nên chắc số bút cần thiết sẽ còn bớt đi! Nếu quả thật như thế, khó giải thích nổi là tại sao những nước có nền kinh tế phát triển nhất cũng lại là những nước toán học mạnh nhất. Nói cho cùng, để phát triển toán học, vẫn cần đến tiền, dù không nhiều như một số ngành khác. Cái khó là phải biết thế nào là đủ? Nếu làm toán mà được rất nhiều tiền, tôi chắc toán học khó phát triển. Bởi vì, khi đó số đông đi làm toán sẽ là vì thích tiền, chứ không phải là thích toán! Mà toán học cũng gần như thơ, nếu không thích thì không thể làm hay được. Vậy nên, để phát triển toán học, không nên cho các nhà toán học quá nhiều tiền! Nhưng phải đủ. Ngày nay, khi internet phát triển, có thể "bế hộ nhi tri thiên hạ". Nhưng để làm toán, không gì thay thế được những cuộc trao đổi trực tiếp, khi mà những tư tưởng mới chưa kịp hình thành, chưa phát biểu ra được. Mà trao đổi trực tiếp, phải cần rất nhiều tiền: tiền đi dự hội nghị, đi làm việc ở nước ngoài, tiền vé máy bay, tiền khách sạn. Những loại tiền đó đối với các nhà toán học Việt Nam bây giờ vẫn là những "xa xỉ phẩm", thỉnh thoảng có ai (nước ngoài) cho thì xài. Đó là một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều bạn trẻ tài năng không muốn quay về làm việc trong nước: họ sợ bị cô lập với bên ngoài. Nếu kéo dài tình trạng đó, toán học hiện đại có thể sẽ cũng trở thành "xa xỉ phẩm" của toán học Việt Nam. Vậy nên, cần đầu tư đến mức các nhà toán học Việt Nam có thể tham gia các sinh hoạt khoa học bình thường với cộng đồng toán học thế giới. Ngày nay, có một quan niệm không hiểu tại sao khá phổ biến: "Không ai sống bằng lương". Tôi nghĩ rằng, các nhà toán học, ngoài lương ra hầu như không có thu nhập nào đáng kể. Tất nhiên, trừ khi họ dùng thời gian của mình không phải để làm toán mà để đi dạy thêm các loại. Trong khi chờ đợi một chế độ lương hợp lý (mà chắc là còn lâu mới thực hiện được), có lẽ cần tăng cường tiền cho các đề tài. Với khoản kinh phí khoảng 50 triệu VND mỗi năm cho một đề tài có 10 người tham gia, có lẽ ít ai yên tâm sống được bằng nghề. Nhiều bạn trẻ nhìn gương các thầy giáo cũ của mình mà "không dám về nước", nhiều năm sau, họ trở thành "Việt kiều", và khi đó Nhà nước lại phải nghĩ nhiều chính sách để "thu hút chất xám của họ". Sự đánh giá đúng lao động cũng là điều quan trọng. Ngoài tiền lương, có nhiều cách đánh giá khác: phong chức danh khoa học (giáo sư, phó giáo sư,…). Một nhà toán học nước ngoài, nếu đến tuổi 40 mà chưa có ghế giáo sư thì khả năng tìm được một ghế như vậy là rất khó. Ta thì ngược lại, nói chung trên 40 tuổi mới có thể làm giáo sư. Tại sao? Cái cách "cân, đo, đong, đếm" công trình khoa học như hiện nay không khuyến khích các nhà khoa học trẻ tài năng. Nói chung ở nước ngoài, tiêu chuẩn phong giáo sư chủ yếu dựa vào kết quả nghiên cứu khoa học (không chỉ qua số lượng), chứ không phụ thuộc gì vào thâm niên giảng dạy. Rất nhiều nhà khoa học nhận ghế giáo sư khi chưa qua một giờ dạåy nào. Điều đó hoàn toàn đúng, vì điều cần thiết ở một người giảng dạy đại học là trình độ, chứ không phải là kinh nghiệm, "phương pháp giảng dạy" như ở phổ thông. Vì thế, cần cải tiến cơ bản cách phong chức danh khoa học. Sự trao đổi giữa các nhà toán học Việt Nam với "bên ngoài" đã khó, mà trao đổi với nhau trong nước cũng không dễ gì! Ở nước ta, các nhà khoa học giỏi đã ít, lại rất lãng phí. Mỗi người thường chỉ làm việc ở một nơi. Không có một cơ chế nào để khuyến khích, thậm chí bắt buộc các nhà khoa học phát huy hết khả năng của mình. Thiết nghĩ, nên tạo một cơ chế như vậy. Chẳng hạn, trong kinh phí của mỗi cơ quan khoa học (trường đại học, viện nghiên cứu), có một khoản chỉ được dùng vào việc mời người nơi khác đến làm việc, giảng dạy. Có như vậy mới phát huy hết khả năng ở mỗi người. Hiện nay, việc "thỉnh giảng, hợp tác" vẫn chỉ là tự phát. Nên tạo điều kiện như ở hầu hết các nước, mỗi nhà khoa học có thể có biên chế ở nhiều cơ quan. Trên đây chỉ là một số ý tản mạn muốn cùng trao đổi với những người quan tâm đến toán học Việt Nam, mà hoàn toàn không có ý định đề cập một cách toàn diện về những vấn đề đặt ra cho toán học Việt Nam. Là người làm toán nhiều năm, trải qua những thăng trầm trong phát triển của ngành mình ở Việt Nam, tôi tin là toán học Việt Nam đang bước vào thời kỳ khởi sắc. Nguồn: Tạp chí Hoạt động Khoa học, tháng 4.2005 Comments (0)
![]() Write comment
Copyright 2007. All Rights Reserved. |
| < Prev |
|---|



Toán học có cần cho xã hội không? 